Nỗ lực thực hiện công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

Đăng lúc: Thứ ba - 16/02/2016 20:54
Sau 5 năm (2011 - 2015), thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia về dân số - kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), đến nay, nhận thức về vai trò và sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác DS-KHHGĐ và của người dân về thực hiện chính sách DS-KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản được nâng lên rõ rệt. Đa số nhân dân đã chấp nhận thực hiện quy mô gia đình nhỏ ít con (1 hoặc 2 con) để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; tốc độ gia tăng dân số tự nhiên giảm dần qua từng năm.
Cán bộ Trạm Y tế xã Thượng Hà (Bảo Lạc) tiêm thuốc tránh thai cho phụ nữ

Cán bộ Trạm Y tế xã Thượng Hà (Bảo Lạc) tiêm thuốc tránh thai cho phụ nữ

Chi cục trưởng Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh, bà Lục Thị Thắng cho biết: Thời gian qua hệ thống dân số trong toàn tỉnh đã đẩy mạnh thực hiện công tác tuyên truyền cả chiều rộng lẫn chiều sâu, thông qua sự phối hợp với các ngành, mặt trận, đoàn thể, nâng cao ý thức người dân về công tác dân số; củng cố và ổn định tổ chức bộ máy; thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn cán bộ chuyên trách dân số; tăng cường các dịch vụ DS-KHHGĐ đến các xã vùng sâu, vùng xa trong huyện. Đặc biệt là tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền từ tỉnh, huyện đến cơ sở trong việc vận động, truyền thông tạo môi trường thuận lợi về nhận thức và thực hiện chính sách dân số của người dân trên địa bàn.

Duy trì thường xuyên hoạt động truyền thông, tư vấn, vận động trực tiếp của đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ cơ sở đến các nhóm đối tượng; tăng cường truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức các hoạt động truyền thông nhân các sự kiện hằng năm (Ngày Dân số Thế giới 11/7, Ngày Dân số Việt Nam 26/12, Tháng hành động quốc gia về Dân số…). Tổ chức các hoạt động truyền thông trong Chiến dịch truyền thông lồng ghép cung cấp dịch vụ SKSS/KHHGĐ đến vùng có mức sinh cao, vùng khó khăn, trong đó chú trọng các hoạt động truyền thông trực tiếp tại cộng đồng và truyền thông, tư vấn tại điểm cung cấp dịch vụ. Bà Đàm Thị Phương, cán bộ Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Nguyên Bình cho biết: Thời gian qua, huyện đã tổ chức các đợt chiến dịch truyền thông lồng ghép, tổ chức các hội nghị truyền thông, tư vấn trực tiếp, thảo luận nhóm nhỏ về chăm sóc SKSS/KHHGĐ. Đưa các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nội dung chăm sóc SKSS, sức khỏe bà mẹ, trẻ em…, vào hương ước, quy ước của xóm, tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Vì vậy, giai đoạn 2011 - 2015, tỷ lệ các cặp vợ chồng trên địa bàn huyện thực hiện các biện pháp tránh thai tăng theo từng năm.

Một trong những yếu tố rất quan trọng được thực hiện tốt, góp phần làm nên những những thành công của công tác DS-KHHGĐ thời gian qua là sự hình thành và hoạt động có hiệu quả của mạng lưới cộng tác viên dân số cơ sở. Hiện nay, đội ngũ cộng tác viên dân số của cả tỉnh có 2.491 người, trong đó có 2.123 cộng tác viên lồng ghép với nhân viên y tế thôn bản (chiếm 85%). Bằng sự tâm huyết và lòng nhiệt tình trong công tác, đội ngũ cộng tác viên dân số đã không quản ngại khó khăn thường xuyên “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” để tuyên truyền, vận động trực tiếp người dân thực hiện chủ trương của Đảng về công tác DS - KHHGĐ. Trong đó tập trung vào các cặp vợ chồng đã có 2 con để truyên truyền, vận động không sinh con thứ ba.

Mạng lưới cung cấp dịch vụ KHHGĐ được mở rộng, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng ở cả 3 tuyến: tỉnh, huyện, xã. Các đơn vị thực hiện kỹ thuật dịch vụ KHHGĐ theo phân tuyến kỹ thuật của Bộ Y tế. Cùng với đó, Chi cục DS-KHHGĐ triển khai thí điểm một số mô hình, như: Tư vấn và chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi tại cộng đồng, thực hiện từ năm 2012 thí điểm tại 6 xã, phường của 2 huyện: Quảng Uyên, Hòa An và Thành phố; sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh thực hiện từ năm 2013 thí điểm tại 20 xã, phường của 3 huyện: Trà Lĩnh, Thạch An, Hòa An và Thành phố, góp phần nâng cao chất lượng dân số. Kết quả sàng lọc trước sinh được 140 bà mẹ và lấy mẫu máu gót chân được 397 trẻ sơ sinh, trong đó phát hiện 10 ca dương tính với bệnh thiếu men G6PD; thử nghiệm “Chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ KHHGĐ và nâng cao chất lượng dân số”, thực hiện tại 4 xã của huyện Trà Lĩnh (Cao Chương, Quốc Toản, Quang Hán, Tri Phương) từ năm 2012; tổ chức thực hiện được 3 đợt chiến dịch tại 4 xã mô hình. Kết quả các gói dịch vụ đều đạt và vượt 100% kế hoạch, khám thai, xét nghiệm nước tiểu và siêu âm cho 100 lượt bà mẹ mang thai; khám và siêu âm tổng quát cho 110 ca vị thành niên, thanh niên; khám cho 2.014 lượt phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.

Mô hình Tư vấn kiểm tra sức khoẻ tiền hôn nhân được triển khai từ năm 2010 tại 4 xã, phường của Thành phố và 2 huyện: Bảo Lạc, Bảo Lâm. Sau đó mở rộng địa bàn và duy trì thực hiện đến năm 2014 tại 19 xã, phường của 4 đơn vị: Thành phố, Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thạch An. Qua thực hiện mô hình đã có gần 2.000  lượt thanh niên được cung cấp thông tin, kiến thức và kỹ năng về lĩnh vực DS-KHHGĐ, gần 2.000 người được tư vấn và trên 200 người được khám sức khỏe tiền hôn nhân. Mô hình Can thiệp giảm tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống, được triển khai từ năm 2009 tại 4 xã của 2 huyện: Nguyên Bình, Bảo Lạc. Từ năm 2011 - 2015, các hoạt động của mô hình tiếp tục duy trì tại 12 xã thuộc 5 huyện: Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hoà An, Nguyên Bình. Các xã đã thành lập 48 nhóm, 12 điểm truyền thông tư vấn, hỗ trợ hoạt động tư pháp tại xã, hoạt động truyền thông lồng ghép lễ hội tại cộng đồng. Tại 12 xã thực hiện mô hình, các xóm đều đưa nội dung phòng, chống tảo hôn, kết hôn cận huyết thống vào quy ước, hương ước xóm. Chỉ đạo phối hợp với cán bộ tư pháp các xã thực hiện tốt công tác tư vấn cho các trường hợp kết hôn, đăng ký khai sinh, đã vận động hoãn cưới, dừng cưới tảo hôn được 20 cặp.

Riêng huyện Bảo Lạc duy trì hoạt động của Mô hình Can thiệp giảm tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống tại 4 xã: Bảo Toàn, Hồng Trị, Huy Giáp, Hưng Thịnh. Các xã triển khai mô hình đẩy mạnh công tác tuyên truyền; phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, những người có uy tín trong cộng đồng đến tư vấn, vận động tại gia đình các trường hợp có nguy cơ cưới tảo hôn, kết hôn cận huyết thống. Mỗi năm can thiệp từ 1 - 3 cặp hôn nhân cận huyết thống, tảo hôn. Vì vậy, tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống giảm dần qua các năm. Năm 2011, 4 xã thực hiện mô hình có 22 cặp tảo hôn, đến năm 2015 giảm xuống chỉ còn 6 - 10 cặp.

Triển khai đồng bộ giải pháp, cùng với sự vào cuộc tích cực của các cấp ủy Đảng, chính quyền, công tác DS - KHHGĐ của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực. Chất lượng cuộc sống cho người dân được nâng cao. Công tác DS-KHHGĐ luôn gắn liền với chiến lược phát triển KT - XH của địa phương. Từ nay đến năm 2020, mục tiêu đưa ra là tiếp tục duy trì mức giảm sinh hợp lý, bình quân mỗi năm giảm 0,08 - 0,1‰, giữ vững mức sinh thay thế đến năm 2020. Phấn đấu duy trì tốc độ tăng dân số dưới 1%; quy mô dân số đến năm 2020 dưới 540.000 người; tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại đạt 75%. Tăng cường truyền thông để giảm dần xu hướng gia tăng của tỷ số giới tính khi sinh và ổn định tỷ số này ở mức 105 - 107 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái. Tỷ lệ các cặp nam nữ chuẩn bị kết hôn được tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 5%; tỷ lệ bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh đạt 6%; tỷ lệ trẻ sơ sinh được sàng lọc đạt 8%.

Để đạt được mục tiêu này, Chi cục DS-KHHGĐ tiếp tục tham mưu cho Sở Y tế, Ban Chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ tỉnh chỉ đạo các cấp tập trung công tác truyền thông về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân số. Tăng cường các hoạt động sàng lọc trước sinh và sơ sinh, tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân, vận động lồng ghép các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, KHHGĐ và công tác kiểm tra, đôn đốc ở các vùng đông dân có mức sinh cao và vùng khó khăn, vùng có tỷ số chênh lệch giới tính khi sinh cao..., nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, nhân dân, góp phần thực hiện tốt hơn nữa công tác DS-KHHGĐ trong thời gian tới.  

Mức giảm tỷ suất sinh bình quân hằng năm của tỉnh là 0,18‰, đạt chỉ tiêu kế hoạch giai đoạn 2011 - 2015 (0,15 - 0,2‰/năm). Tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số hằng năm giảm từ 0,94% năm 2012 xuống 0,90% năm 2015. Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại tăng bình quân 0,5%/năm. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm hằng năm. Chất lượng dân số từng bước được cải thiện, tuổi thọ trung bình lúc sinh (năm) của dân số Cao Bằng ngày càng tăng, thời điểm ngày 1/4/2009 là 68,7 năm, đến ngày 1/4/2013 tăng lên 69,8 năm; tỷ suất chết thô giảm từ 8,7‰ năm 2009 xuống 8,19‰ năm 2014.


 

Tác giả bài viết: Thanh Thúy
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
CSDL Quốc Gia về TT Hành chính
Quản lý thiết bị y tế
Cổng dữ liệu BYT
Hệ thống VB điều hành của Sở Y tế
Học liệu điện tử LUX - DEV
VNPT Cao Bang
ICD-10
ICD-9 CM vol 3
VNPT His
cổng gdbhyt

Liên kết webstie

  • Đang truy cập: 42
  • Khách viếng thăm: 27
  • Máy chủ tìm kiếm: 15
  • Hôm nay: 2112
  • Tháng hiện tại: 82150
  • Tổng lượt truy cập: 8417730

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ Y TẾ CAO BẰNG
Địa chỉ: Số 031, phố Hiến Giang, phường Hợp Giang, Thành phố Cao Bằng, Cao Bằng
Email: soyte@caobang.gov.vn; Điện thoại: 0263.852 272; Fax: 0263 853 208
Chịu trách nhiệm: Ông Lục Văn Đại - Giám đốc Sở Y tế